Hiển thị các bài đăng có nhãn goc-tu-van. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn goc-tu-van. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 15 tháng 10, 2014

10 công dụng chữa bệnh kỳ diệu của quả na

0 nhận xét


Quả na không chỉ tốt cho những người bị bệnh tim mà còn có tác dụng ngăn ngừa nguy cơ mắc bệnh ung thư da.


1. Bệnh hen

Na là trái cây có hàm lượng vitamin B6 cao, có tác dụng làm giảm các chứng viêm phổi và ngăn ngừa những cơn ho.

2. Bệnh tim

Hàm lượng magie trong quả na đem đến một trong những tác dụng tuyệt vời nhất cho sức khỏe, đó là ngăn ngừa những cơn đau tim.

3. Hệ tiêu hóa

Quả na có hàm lượng đồng và chất xơ có tác dụng tốt cho hệ tiêu hóa và giúp ngăn ngừa chứng táo bón.

Hàm lượng magie trong quả na đem đến một trong những tác dụng tuyệt vời nhất cho sức khỏe, đó là ngăn ngừa những cơn đau tim. (Ảnh minh họa)

4. Bệnh tiểu đường

Hàm lượng chất xơ trong quả na còn có tác dụng làm giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường loại 2.

5. Giữ huyết áp ổn định

Quả na giàu kali và magie, hai khoáng chất có tác dụng điều hòa huyết áp cơ thể.

6. Làm giảm lượng cholesterol

Na chứa hàm lượng niacin và chất xơ cao nên có tác dụng làm giảm lượng cholesterol trong cơ thể.

7. Tốt cho người thiếu máu

Với hàm lượng sắt cao, na thực sự là một thực phẩm hữu ích dành cho người thiếu máu.


8. Chăm sóc đôi mắt

Na chứa riboflavin và vitamin C, hai yếu tố quan trọng nhất giúp bảo vệ đôi mắt.

9. Ngăn ngừa viêm khớp

Hàm lượng magie trong qua na có tác dụng cân bằng lượng nước trong cơ thể, loại bỏ axit ra khỏi các khớp và làm giảm nguy cơ bị viêm khớp.

10. Ngăn ngừa ung thư

Hợp chất acetogenin được tìm thấy trong quả na có tác dụng rất tốt trong việc điều trị tận gốc các thương tổn tiền ung thư da, qua đó, ngăn ngừa nguy cơ mắc bệnh ung thư da.


Theo Song Tú (Đời sống pháp luật)


Mời xem tiếp các dự án thiết kế Ngôi Nhà Xinh tại Biệt Thự Đẹp




Read more...

Thứ Ba, 14 tháng 10, 2014

Công dụng chữa bệnh từ nghệ đen

0 nhận xét


Nghệ đen còn có nhiều tên gọi khác nhau như nghệ tím, ngải tím, ngải xanh, nghệ đăm. Trong y học cổ truyền, nghệ đen có tên thuốc là nga truật, là thân rễ phơi khô của cây nghệ đen.


Nghệ đen là loại cây thảo cao từ 1 - 1,5m, thân rễ hình nón với nhiều nhánh phụ thon như hình quả trứng tỏa xung quanh như hình chân vịt. Lá có bẹ to ôm vào chân cây ở phía dưới, có đốm tía đỏ ở gần giữa mặt trên, lá dài 30 - 60cm, rộng 7 - 8cm. Cuống lá ngắn hoặc không có. Hoa màu vàng, đài có thùy hình mác tù, dài 15mm, thùy giữa nhọn. Cụm hoa tập trung thành bông hình trụ, mọc lên từ thân rễ. Lá bắc phía dưới hình quả trứng hay hình mác tù, màu xanh lục nhạt, đầu lá màu đỏ, không mang hoa. Quả hình trứng, ba cạnh, nhẵn hạt thuôn, áo hạt trắng. Về hình dáng, nghệ đen rất giống nghệ vàng nhưng có màu tím đậm.


Cây mọc hoang ở vùng rừng núi, ven suối, vùng xốp ẩm và được trồng ở nhiều nơi để làm thuốc. Bộ phận dùng là thân, rễ tươi hoặc khô khi thu củ, vỏ ngoài vàng nâu, trong xanh thẫm, thu hái về cắt bỏ rễ con, luộc chín. Thu hái nghệ đen vào đầu tháng 11 - 12.

Theo y học cổ truyền, nghệ đen có vị cay, đắng, tính ôn, có tác dụng hành khí, phá huyết, thông kinh, tiêu tích, hóa thực… Thường dùng chữa đau bụng, ăn không tiêu, đầy hơi, bế kinh…

Một số đơn thuốc có sử dụng nghệ đen:

Chữa chứng huyết ứ, kinh nguyệt không thông, bế kinh, máu ra kéo dài, đen, đông thành khối nhỏ, kèm theo đau bụng trước khi thấy kinh: Nghệ đen 15g, ích mẫu 15g. Sắc uống ngày 1 thang. Uống 5-7 ngày trước kỳ kinh.



Ăn không tiêu, bụng đầy trướng: Nghệ đen 25g, tim lợn 1 quả. Tim lợn làm sạch, thái miếng, nghệ đen thái lát, nấu chín, thêm gia vị. Ăn liên tục 5 - 7 ngày.

Chữa đau bụng kinh, sắc kinh xấu: Nghệ đen 20g, ích mẫu 16g, ngải cứu 8g. Sắc với 500ml nước, còn 200ml, chia 2 lần uống trước bữa ăn. Uống 5-7 ngày trước kỳ kinh.

Bổ khí, dưỡng huyết: Nghệ đen, bạch chỉ, hồi hương, cam thảo, đương quy, thục địa, bạch thược, xuyên khung mỗi vị 40g. Tất cả các vị tán bột, hoàn thành viên. Ngày uống 8 - 12g. Thích hợp dùng cho các trường hợp suy nhược, tiêu hóa hấp thu kém, thể trạng xanh xao, thiếu máu,…

Lưu ý: Không dùng nghệ đen cho người khí huyết hư, phụ nữ có thai.


Tác giả: Bác sĩ Nguyễn Thị Nga
Nguồn: suckhoedoisong.vn/

Mời xem tiếp các dự án thiết kế Ngôi Nhà Xinh tại Biệt Thự Đẹp




Read more...

Thứ Bảy, 11 tháng 10, 2014

Công dụng tuyệt vời đối với sức khỏe từ trái đu đủ

0 nhận xét


Đu đủ là một người bạn thân thiện đối với những người đang cố gắng giảm cân. Loại trái cây đặc trưng của xứ nhiệt đới nnày không chỉ rất giàu vitamin, khoáng chất mà còn ẩn chứa nhiều khả năng chữa bệnh tuyệt vời.



1. Giảm viêm

Đu đủ có chứa chymopapin và papain, hai enzyme protein tuyệt vời cho hệ tiêu hóa, và nó cũng giàu vitamin A, C và carotene. Tất cả những khoáng chất này giúp cơ thể bảo vệ chống lại viêm khớp dạng thấp, cũng như giảm viêm. Đây là một trong những lý do tốt nhất để bạn bổ sung đu đủ vào chế độ ăn của mình.

2. Cân bằng vi khuẩn đường ruột

Thuốc kháng sinh có thể rất có hại cho cơ thể vì chúng có thể tiêu diệt vi khuẩn có lợi trong ruột của bạn. Nước ép đu đủ giúp bổ sung vi khuẩn đường ruột tốt vốn bị “giết chết” bởi thuốc kháng sinh.Vì vậy, trong và sau khi điều trị kháng sinh, bạn hãy cố gắng ăn thêm nhiều đu đủ hoặc uống nước ép đu đủ.

3. Giảm buồn nôn

Đu đủ là một nguồn enzyme hỗ trợ tiêu hóa tuyệt vời, đồng thời giúp cân bằng axit trong dạ dày của bạn.Trái cây này cũng có thể giúp giảm buồn nôn, trong đó bao gồm cả triệu chứng ốm nghén mà các mẹ bầu phải đối mặt. Nếu bạn đang tìm kiếm một cách tự nhiên để giảm buồn nôn, thì có thể xem xét đến việc ăn một vài lát đu đủ.
4. Tốt cho mắt
Như đã đề cập ở trên, đu đủ giàu vitamin A và beta carotene, vốn là những dưỡng chất tuyệt vời giúp bảo vệ thị lực và thậm chí có thể cải thiện thị lực của bạn. Nếu sợ ăn đu đủ thường xuyên, bạn có thể thêm vài lát đu đủ vào ly sinh tố, hoặc trộn nó vào salad trái cây cho khẩu vị bớt nhàm.

5. Giúp giảm mức độ căng thẳng của bạn

Nghiên cứu đã phát hiện ra rằng vitamin C giúp điều chỉnh dòng chảy của kích thích tố căng thẳng, nhờ đó làm giảm căng thẳng. Đu đủ là một nguồn vitamin C tuyệt vời và đó là một bữa ăn nhẹ lý tưởng cho những ngày bạn cảm thấy tinh thần căng thẳng. Hãy thưởng thức một vài lát đu đủ sau một ngày làm việc vất vả, giống như là phần thưởng cho sức khỏe của bạn.

6. Giúp giảm đau bụng kinh

Bạn có biết rằng lá đu đủ có tác dụng tích cực trong việc giảm nhẹ triệu chứng chuột rút trong kỳ kinh nguyệt? Để giảm bớt sự đau đớn khó chịu, hãy thêm một vài lá đu đủ, me và muối vào một nồi nước và đun sôi. Mặc dù hỗn hợp này là không ngon miệng lắm nhưng sau khi bạn uống nó, bạn sẽ cảm thấy dễ chịu hơn nhiều.

7. Giúp chống lại ung thư

Một trong những enzyme trong đu đủ, papain, đang được nghiên cứu như là một cứu trợ có thể cho tác dụng hỗ trợ tích cực trong điều trị ung thư, bao gồm cả triệu chứng khó nuốt và miệng lở loét sau khi hóa trị. Ăn đu đủ cũng giúp cải thiện hệ miễn dịch và giúp chống ung thư.

8. Giúp ngăn ngừa cục máu đông

Nếu bạn uống thuốc ngừa thai hoặc là người hay hút thuốc, bạn có nguy cơ cao bị cục máu đông. Ăn đu đủ có thể giúp bạn ngăn chặn phát triển các cục máu đông vì nó có chứa fibrin hỗ trợ tích cực trong việc ngăn ngừa đông máu.


Theo: baithuocquy.com


Mời xem tiếp các dự án thiết kế Ngôi Nhà Xinh tại Biệt Thự Đẹp




Read more...

Tác dụng quý ít biết của vitamin B9 (hay folic acid)

0 nhận xét

 Cách đây 10 năm khi nói đến vitamin B9 hay còn gọi là folic acid người ta chỉ biết nó cần bổ sung cho phụ nữ mang thai...

Cách đây 10 năm khi nói đến vitamin B9 hay còn gọi là folic acid người ta chỉ biết nó cần bổ sung cho phụ nữ mang thai, người bệnh đang dùng các loại thuốc kháng folic acid, điều trị chứng thiếu máu nguyên hồng cầu khổng lồ. Ngày nay, nhờ sự tìm tòi tích cực của các nhà khoa học đã phát hiện nhiều tác dụng quý của folic acid cho sức khỏe con người từ lúc là mầm sống đến tuổi già.
Vitamin B9 còn gọi là vitamin Bc, vitamin L1, vitamin M, acid folic, folacin hay folate. Tên hóa học: Pteroyl monoglutamic acid.

Năm 1941, các nhà khoa học phát hiện trong lá của rau Bina (spinach) có acid folic. Ngày nay, vitamin B9 ở mỗi nước có một cách quản lý khác nhau. Ở Việt Nam được coi là thuốc. Có các dạng thuốc: uống (viên nén, viên nang, dung dịch) với hàm lượng 0,4; 0,8; 1; 5mg. Hoặc phối hợp với sắt (Fe); phối hợp với các vitamin khác nhau. Thuốc tiêm dưới dạng muối của acid folic 5mg/ml để tiêm bắp, tiêm tĩnh mạch hoặc dưới da (thuốc tiêm phải bán theo đơn). Ở Mỹ, viamin B9 được coi là thực phẩm chức năng.

Những thực phẩm giàu folic acid

Vai trò của acid folic

Folic acid là vitamin thuộc nhóm B, là coenzym của nhiều quá trình chuyển hóa trong cơ thể, rất cần để sản xuất tế bào mới, trong đó có hồng cầu, bạch cầu; nó đặc biệt quan trọng ở giai đoạn phân chia và lớn nhanh của tế bào trẻ sơ sinh và phụ nữ mang thai. Đóng vai trò quan trọng với sự hình thành, phục hồi và tổng hợp nên AND, cần thiết trong việc nhân đôi AND và tránh đột biến AND. Cần cho nam trong độ tuổi sinh đẻ tạo tinh trùng, tăng số lượng và chất lượng tinh trùng.

Folic acid làm giảm lượng homocystein, chất tạo điều kiện cho vữa xơ mạch vành phát triển nên rất cần thiết cho người bệnh đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim.

Folic acid tham gia vào quá trình tổng hợp các chất dẫn truyền thần kinh như dopamin, adrenalin, noradrenalin... giúp cho thần kinh hoạt động tốt; chống các bệnh như phản ứng chậm chạp, rối loạn thái độ, tự kỷ.

Folic acid kết hợp với vitamin B12 giúp sản sinh tế bào máu chống bệnh thiếu máu. Folic acid là chất xúc tác cho nhiều loại dược phẩm, giảm tác dụng phụ có hại cho cơ thể, rất cần cho những người thường xuyên phải dùng thuốc hoặc phải dùng nhiều loại thuốc để điều trị nhiều bệnh cùng lúc (thuốc giảm đau, chống co thắt, hạ huyết áp, hạ đường huyết, hạ cholesterol máu, kháng sinh, kháng lao, trợ tim, an thần, nhuận gan, chống động kinh, chống sốt rét...).

Nhu cầu folic acid hàng ngày của cơ thể

Trẻ còn bú: 50mcg, từ 1 đến 3 tuổi: 100mcg, từ 4 đến 12 tuổi: 200mcg, từ 13 tuổi đến người lớn 300mcg, phụ nữ có thai hoặc cho con bú 500mcg (giới hạn an toàn 800mcg).

Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Thụy Sĩ và Hà Lan: Hàng ngày uống 800mcg folic acid sẽ giúp cho người già tăng khả năng nhận thức, duy trì thính lực, tiến bộ về trí nhớ và tổng hợp tin tức.

Quỹ Chăm sóc người cao tuổi Mỹ (CLF) khuyến cáo, người cao tuổi nên bổ sung hàng ngày 400mcg folic acid.

Nguồn cung cấp

Folic acid có trong thức ăn thiên nhiên như: các loại rau xanh tươi sống, nấm, đậu, củ, quả, ngũ cốc, thịt và phủ tạng động vật... Folic aicd cao nhất là gan bò, gan gà: 590mcg, sau đến hạt đậu đũa 430mcg, hạt đậu tương 210mcg, quả ổi chín 170mcg, rau mồng tơi 134mcg, hạt lạc 124mcg, rau đay 123mcg, rau muống 122mcg...

Folic acid không bền với nhiệt, không khí, ánh sáng, chất kiềm. Các loại rau tươi không nên ngâm lâu dưới nước, không nấu chín nhừ (thực phẩm đóng hộp mất từ 50 - 90% acid folic).

Vì vậy, người nội trợ cần biết những thức ăn dễ kiếm, rẻ tiền này để sử dụng trong bữa ăn hàng ngày là đã đảm bảo nhu cầu folic acid mà không cần mua thực phẩm chức năng nhập ngoại đắt tiền.

Vi khuẩn đường ruột có khả năng tổng hợp một lượng folic acid để đáp ứng nhu cầu cơ thể khi thức ăn không đủ cung cấp (tuy vậy, một số người lại ít có khả năng này do di truyền hoặc do cơ thể yếu).
Trong các loại thức ăn kể trên, folic acid tồn tại dưới dạng poly glutamat, khi vào cơ thể được men carboxypeptidase thủy phân rồi bị khử nhờ DHF reductase ở niêm mạc ruột và methyl hóa tạo MDHF, chất này được hấp thụ vào máu, sau đó được phân bố vào các mô trong cơ thể, được tập trung trong dịch não tủy và dự trữ ở gan.

Folic acid trong dược phẩm được giải phóng nhanh ở dạ dày và hấp thu ở đoạn đầu ruột non, được tích trữ chủ yếu ở gan và dịch não tủy.

Tương tác thuốc: cotrimoxazol làm giảm tác dụng điều trị thiếu máu nguyên hồng cầu khổng lồ của folic acid, thuốc tránh thai uống làm giảm chuyển hóa của folic acid, thuốc chống co giật: nếu uống cùng lúc với folic acid thì nồng độ thuốc chống co giật bị giảm; sulphasalazin: làm giảm hấp thu folic acid.

Tránh dùng cùng lúc với: trà, cà phê, rượu sẽ giảm khả năng hấp thu folic acid.

Folic acid được chỉ định điều trị thiếu máu nguyên hồng cầu khổng lồ và phòng các trường hợp thiếu folic acid.

Folic acid không dùng trong trường hợp mắc bệnh ung thư máu, thiếu máu tán huyết, đa hồng cầu.

DS. Trần Xuân Thuyết

Mời xem tiếp các dự án thiết kế Ngôi Nhà Xinh tại Biệt Thự Đẹp

Địa Chỉ: 382D Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường 8, Q.3, TP.HCM

 

 

 

 

 

Read more...

Thứ Hai, 6 tháng 10, 2014

Tía tô - Dược thảo của bà bầu

0 nhận xét

Tía tô là loại gia vị thơm ngon, không thể thiếu trong các món ngon như cháo, chuối đậu, bún ốc... và là vị thuốc giải biểu được dùng phổ biến trong y học cổ truyền. Bộ phận dùng làm thuốc là lá (tô diệp), cành (tô ngạnh), quả (tô tử). Theo Đông y, tía tô mùi thơm, chứa tinh dầu, tác dụng phát hãn, trừ ôn dịch, lý khí tiêu đờm, dùng chữa ho hen, cảm cúm, đau đầu sổ mũi, viêm họng, chống dị ứng, trị nôn, đau trướng bụng, bí đại tiện. Đối với bà bầu, nó còn là vị thuốc an thai, dưỡng thai hiệu quả. Xin giới thiệu để chị em tham khảo.

Ốm nghén: Chị em thường nôn, chán ăn, người mệt mỏi, thèm ăn những thứ chua, chát…: tía tô 20g, ngải diệp 16g, bạch truật 16g, đương quy 16g, phòng sâm 12g, cẩu tích 12g, đỗ trọng 10g, sơn tra 10g, hoài sơn 16g, liên nhục 12g, liên kiều 12g, sinh khương 3 lát, đại táo 5 quả, cam thảo 12g, phục long can 16g. Sắc uống ngày 1 thang. Công dụng: an thai, bổ tỳ, hết nôn.


Tía tô không chỉ là loại rau gia vị quen thuộc trong nhiều món ăn mà còn là vị thuốc an thai dưỡng thai rất tốt.
Thai phụ bị đau bụng, đau lưng, ra huyết: lá và cành tía tô 20g, bạch truật 16g, sa sâm 16g, ngải diệp 12g, a giao 6g, thục địa 16g, hoàng cầm 12g, gừng nướng cháy 6g, đỗ trọng 10g, đương quy 12g, bạch thược 12g, cam thảo 10g, phục long can 16g. Sắc uống ngày 1 thang. Dùng 7 - 10 ngày liền. Công dụng: an thai, nhuận huyết, chỉ huyết.
Nhiệt thai: chị em bị nóng trong bụng, cồn cào, nước tiểu đỏ lượng ít, ăn uống kém, sưng đau lợi răng, táo bón, tiêu hóa không thông lợi: đương quy 16g, lá và cành tía tô 16g, bạch truật 12g, chi tử 12g, liên kiều 16g, hoàng cầm 10g, đỗ trọng 10g, ngân hoa 10g, rau má 20g, a giao 6g, thục địa 12g, hoài sơn 16g, liên nhục 12g, khởi tử 12g. Sắc uống ngày 1 thang. 7 - 8 ngày là một liệu trình.
Thai phụ bị phù nề, tiểu ít, tê bì hai chi dưới: tía tô 16g, bạch truật 16g, ngũ gia bì 16g, ngải diệp 12g, cao lương khương 10g, thăng ma 10g, sài hồ 12g, trần bì 12g, xa tiền 10g, hoài sơn 16g, liên nhục 12g, hương nhu trắng 10g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần. Công dụng: bổ trung, bổ tỳ, thuận khí, thông tiểu.
Thai phụ bị ho hen, nhiều đờm, khó thở: tía tô 16g, cát cánh 16g, kinh giới 12g, trần bì 10g, mơ muối 10g, rau tần dày lá 12g, cam thảo 12g, lá xương sông 12g, tang bạch bì 10g, bối mẫu 10g, bạch linh 10g, bạch quả 10g. Sắc uống ngày 1 thang. Công dụng: thanh phế, trừ phong, tiêu đờm, giảm ho.


Nguồn: http://suckhoedoisong.vn/


Mời xem tiếp các dự án thiết kế Ngôi Nhà Xinh tại Biệt Thự Đẹp




Read more...

Thứ Sáu, 3 tháng 10, 2014

Bài thuốc quý chữa bệnh xương khớp

0 nhận xét


Tỏi là gia vị đầu tay, nhân dân ta ai cũng biết; là vị thuốc y học dân tộc lương y nào cũng biết. Tuy nhiên, rượu tỏi có xuất xứ Ai Cập thì chưa nhiều người biết.

Y học cổ truyền đã dùng tỏi vào điều trị nhiều loại bệnh thu được hiệu quả tốt. Trong ngôi mộ cổ xưa ở Ai Cập, người ta đã tìm thấy đơn thuốc làm từ tỏi. Còn ở Trung Quốc, ngay từ năm 2600 trước Công nguyên đã có những bài thuốc bào chế từ tỏi. Ở nước Nga từ thế kỷ 19, người ta đã coi cây tỏi như một loài thảo dược...



Tỏi tên khoa học Allium sativum L. thuộc họ Hành tỏi (Liliaceae). Trong củ tỏi có chứa 0,10 - 0,36% tinh dầu, trong đó hơn 90% chứa các hợp chất lưu huỳnh (S). Thành phần chủ yếu của tỏi là chất alicin có mùi đặc trưng tỏi. Nhưng trong tỏi tươi không có alicin ngay, mà có chất aliin (một loại acid amin) - chất này chịu tác động của enzym alinase cũng có trong củ tỏi khi giã giập mới cho alicin.

Ngoài ra, củ tỏi còn chứa nhiều vitamin và chất khoáng... đặc biệt là selen. Y học phương Đông ghi về tỏi như sau: vị cay, tính ôn, hơi có độc, vào 2 kinh can và vị, tác dụng thanh nhiệt, giải độc, sát khuẩn, trừ phong, thông khiếu, tiêu nhọt, hạch ở cổ, tiêu đờm...

Có thể dùng tỏi với những cách khác nhau, nhưng độc đáo là Ai Cập hầu như nhà nào cũng dùng “rượu tỏi”. Vào thập kỷ 70 của thế kỷ 20, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) nhận thấy Ai Cập là một nước nghèo, khí hậu sa mạc khắc nghiệt, nhưng sức khỏe chung của người dân lại vào loại tốt, ít bệnh tật, tuổi thọ trung bình vào loại tương đối cao. Thấy đây là một hiện tượng lạ, WHO đã cử nhiều chuyên gia y tế đến Ai Cập nghiên cứu. Các nhà nghiên cứu đã chia nhau về nông thôn và thâm nhập các vùng có khí hậu khắc nghiệt để nghiên cứu thu thập tài liệu có liên quan đến sức khỏe, bệnh tật. Họ có nhận xét chung là nhà nào cũng có một lọ rượu ngâm tỏi để uống, từ bao nhiêu thế kỷ nay, người dân Ai Cập vẫn giữ được tập quán này. Qua nghiên cứu phân tích cho thấy, rượu tỏi có thể chữa được 4 nhóm bệnh:
Các bệnh xương khớp (viêm đau khớp, vôi hóa các khớp, mỏi xương khớp...).




Bệnh đường hô hấp (viêm họng, viêm phế quản, hen phế quản...).
Bệnh tim mạch (tăng huyết áp, huyết áp thấp, xơ vữa động mạch).
Bệnh đường tiêu hóa (ợ chua, khó tiêu, viêm loét dạ dày - tá tràng).
Cho tới năm 1983, các nhà y học Nhật Bản lại thông báo bổ sung thêm 2 nhóm bệnh nữa là: các bệnh trĩ, bệnh đái tháo đường và nhận xét đây là loại thuốc có hiệu quả chữa bệnh cao và không gây phản ứng phụ.

Cách bào chế rượu tỏi và uống: Tỏi khô (đã bóc bỏ vỏ) 40g thái nhỏ, cho vào chai ngâm với 100ml rượu trắng 40 - 45 độ, thỉnh thoảng lại lắc chai rượu, dần dần rượu chuyển từ màu trắng sang màu vàng, đến ngày thứ 10 thì chuyển sang màu nghệ và uống được. Mỗi ngày dùng 2 lần, sáng uống 40 giọt (tương đương 1 thìa cà phê) trước khi ăn, tối uống 40 giọt trước khi ngủ. Uống khoảng 20 ngày thì hết, bởi vậy cứ sau 10 ngày lại ngâm tiếp để ngày nào cũng có rượu tỏi dùng, uống liên tục suốt đời. Với một lượng rượu rất nhỏ như thế, người kiêng rượu hoặc không uống được rượu vẫn dùng được.

Ở nước ta cũng đã có nhiều người áp dụng bài thuốc rượu tỏi này, nhưng liều lượng thì linh hoạt (thậm chí có người uống tới 3 thìa cà phê rượu tỏi/lần), nhưng không thấy phản ứng phụ. Các thông tin phản hồi đều cho biết rượu tỏi đã điều trị có hiệu quả nhiều bệnh mạn tính khác nhau, có nhiều người khỏi bệnh. Có thể nói, rượu tỏi là vị thuốc tuyệt vời, trời ban cho người nghèo...

Sau này, tỏi lại được nhiều nhà khoa học ở nhiều nước nghiên cứu phát hiện nhiều đặc tính trị liệu quý của nó. Nổi bật là tác dụng kháng khuẩn, hoạt tính kháng nấm cũng đã được chứng minh - nghiên cứu dược lý thực nghiệm thấy tỏi có phổ kháng khuẩn và kháng nấm rộng. Tác dụng kháng virut cũng đã được nói đến. Với hệ tim mạch, những nghiên cứu mới cho thấy tỏi có tác dụng làm giảm triglycerid và giảm hàm lượng cholesterol xấu (LDL), nhưng lại tăng cholesterol tốt (HDL) do đó làm giảm các rối loạn chuyển hóa mỡ trong máu. Tỏi còn có khả năng giúp cơ thể phòng ngừa ung thư, đó là điều nhiều nhà khoa học đã thừa nhận, song có điều trị được ung thư khi nó đã phát triển thành khối u hay không thì chưa chứng minh được, còn cần nghiên cứu tiếp.

Tỏi có nhiều hữu ích, đó là điều rõ ràng. Tuy nhiên, đã là thuốc thì phải tính đến liều lượng sử dụng thích hợp (thuốc dùng liều quá cao cũng có hại) và các phản ứng phụ, không nên lạm dụng. Nếu dùng tỏi quá nhiều có thể gây hơi thở hôi, rối loạn dạ dày - ruột, ức chế tuyến giáp... Bởi vậy, chỉ nên áp dụng bài thuốc rượu tỏi với liều lượng mà WHO đã dày công nghiên cứu, phổ biến. Với liều lượng ấy là có tác dụng phòng và chữa được nhiều bệnh. Coi trọng cách dùng an toàn là có thể dùng hàng ngày một cách lâu dài mà không lo nó gây ra những tác dụng xấu ngoài ý muốn.



Nguồn: Sưu tầm


Mời xem tiếp các dự án thiết kế Ngôi Nhà Xinh tại Biệt Thự Đẹp




Read more...

Chủ Nhật, 28 tháng 9, 2014

Cây thuốc quý chữa viêm xoang hiệu quả

0 nhận xét


Khoảng trên 90% người bệnh bị viêm xoang mũi có thể khỏi nhờ xông thuốc từ cây giao. Ngoài ra, cây còn có thể trị được các bệnh khác như mụn cóc, viêm, cá đâm, rắn cắn.
Cây giao có nơi lại gọi là cây xương cá, cây nọc rắn, cây càng cua, cây càng tôm, cây xương khô, cây san hô xanh, thập nhị, cây quỳnh cành giao... tên khoa học là Euphorbia Tiricabira L. thuộc họ thầu dầu Euphorbiaceae. Cây mọc hoang nhiều nơi, ở thôn quê cây có thể dùng làm hàng rào. Công dụng chủ yếu là chữa chứng bệnh viêm xoang mũi.


Toàn cây giao có vị cay, hơi chua, tính mát, hơi có độc, có tác dụng thúc sữa, sát trùng, khử phong, tiêu viêm, giải độc. Chuẩn bị một cái ấm nước nhỏ (nhôm, sành đều được nhưng không dùng để nấu nước uống vì sợ độc). Lấy một miếng giấy khá lớn, một tờ giấy lịch treo tường lớn hoặc nối 2 - 3 tờ giấy A4 bằng băng keo thành 1 tờ lớn, rồi quấn xéo lại thành một cái ống dài khoảng 5 tấc (50cm) chứ không được làm ngắn hơn vì sẽ quá nóng, dễ bị phỏng da còn nếu dài quá thì hơi không đủ mạnh để hít.
Ống phải quấn sao cho 1 đầu vừa hoặc lớn hơn miệng vòi ấm còn 1 đầu nhỏ hơn sao vừa vào mũi để hít. Nếu có ống tre thì tốt hơn, nhưng không được dùng nhựa, dễ nóng chảy! Mở nắp ấm, đổ vào cỡ một chén nước. Đếm cỡ 10 - 20 đốt cây xương cá (tùy theo số cây mình có được nhiều hay ít), cắt nhỏ các đốt cây (thành cỡ phân nửa của lóng tay) rồi thả vào ấm. Nên cắt cây ngay trên miệng ấm, để cho mủ cây nhỏ vào ấm càng tốt. Phải luôn cẩn thận tránh mủ văng vào mắt, nguy hiểm.
Đặt ấm lên bếp, vặn lửa thật lớn cho nước trong ấm sôi lên. Đến khi thấy hơi xông ra nhiều từ vòi ấm thì ta bớt lửa đến cực nhỏ, chỉ canh sao cho vừa đủ để hơi vẫn còn bốc ra nhẹ ở vòi ấm là đủ. Lấy ống giấy đã quấn, đưa đầu lớn của ống vào vòi ấm, còn đầu nhỏ cho vào mũi để hít hơi xông lên. Thời gian xông có thể chỉ là 15 - 20 phút, hay nếu có thời gian thì xông 30 - 50 phút. Nên để dành và hâm lại nước trong ấm để dùng, thường là 2 lần trong ngày (sáng và tối). Sau đó đổ bỏ, hôm sau làm lại liều thuốc mới. Khi hâm lại dùng lần 2 thì cho thêm một ít nước cùng với 1 vài đốt cây để bổ sung thêm thuốc.
Lưu ý: Nên bắt đầu xông ngay khi vừa bốc hơi, để tận dụng lúc chất mủ còn đậm đặc sẽ đạt hiệu quả nhanh. Vì hơi xông ra rất nóng, nên ta có thể hít một lát, đến khi thấy nóng quá thì quay mặt ra thở bên ngoài, rồi lại quay vào xông tiếp. Nên linh động làm sao để xông một cách thoải mái là được. Bình thường, chỉ sau từ 2 - 3 hoặc 4 lần xông sẽ thấy thuyên giảm rõ. Không nên xông trị viêm xoang cho phụ nữ đang có thai.

Tác giả: BS Hoàng Xuân Đại (nguyên chuyên viên Bộ Y tế)

Nguồn: kienthuc.net.vn


Mời xem tiếp các dự án thiết kế Ngôi Nhà Xinh tại Biệt Thự Đẹp




Read more...

Thứ Bảy, 20 tháng 9, 2014

Cách phòng bệnh sởi cho trẻ khi chưa kịp tiêm phòng

0 nhận xét



Sởi thường xuất hiện nhiều vào cuối năm cũ, đầu năm mới. Không chỉ gây các biến chứng như kiết lỵ ra máu mũi, tiêu chảy kéo dài, viêm phổi, sởi còn có thể là nguyên nhân gây còi xương, suy dinh dưỡng, thậm chí tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi nếu không được điều trị đúng.
Cách đề phòng tốt nhất là cho trẻ đi tiêm văcxin sởi.
Ngoài ra, một trong những biện pháp đề phòng là hạt mùi - lưu ý đây chỉ là biện pháp vệ sinh phòng dịch. Cuối năm, mua nhiều cây mùi già có quả rắn chắc, buộc treo ở đầu nhà, hong gió cho khô giòn, vò lấy hột và lá khô cho vào lọ đậy kín. Đến thời kỳ hay có bệnh sởi thì lấy một nắm nhỏ hạt và lá mùi già cho vào 3 gáo nước đun sôi để gần nguội tắm cho trẻ. Trước khi tắm, nên cho trẻ uống một thìa nước mùi. Cứ cách nửa tháng lại tắm một lần. Cách này có thể đề phòng được bệnh sởi phát sinh, lại sạch và thơm. Nếu cẩn thận thì quần áo của các cháu cũng thỉnh thoảng cho vào nồi nước mùi già để đun sôi.

Hạt mùi già
Khi có bệnh sởi lan tràn, các bà mẹ nên cho trẻ cách xa nơi có bệnh. Những người thân, cha mẹ có việc cần phải đến nơi có bệnh sởi thì khi vừa về tới nhà phải thay giặt quần áo bằng nước sôi và tắm rửa sạch sẽ rồi hãy tiếp xúc với trẻ. Gia đình nào đông các cháu mà lỡ có một cháu bị lên sởi thì phải ở riêng, không cho nằm chung, chăn màn, giường chiếu phải giặt sạch.
Đang mùa sởi, nếu trẻ nào có vẻ kém vui đùa, không chịu chơi như mọi ngày thì các bà mẹ nên lưu ý theo dõi ngay xem có phải bị lên sởi hay không. Nếu thấy trán âm ấm lại có mụn lờ mờ ở dưới da, da mắt, da trán, dái tai hơi man mát thì đó là dấu hiệu sắp mọc sởi. Lúc này nên kiêng nước, tránh gió và ủ cho ấm. Đồng thời, có thể dùng một trong các bài thuốc dân gian dưới đây:
1. Hạt lá tía tô 30 g; sắn dây 25 g; kinh giới, mạch môn mỗi thứ 20 g; cam thảo 5 g. Tất cả sấy khô, tán bột mịn đóng gói 3 g. Trẻ em một tuổi uống ngày hai gói, 3 tuổi uống ngày 4 gói, 5 tuổi uống ngày 6 gói: Hãm thuốc với nước sôi lọc trong hoặc uống cả bã. Thuốc chỉ dùng trong 3 ngày, chỉ uống giai đoạn đầu, khi sởi đã mọc đều hoặc trẻ bị tiêu chảy không nên uống.
Cây tía tô
2. Củ sắn dây một miếng to bằng hai bao diêm (gọt vỏ thái mỏng), cánh bèo cái lấy độ năm cây (vặt bỏ rễ), kinh giới 10 ngọn (khô hoặc tươi, nếu có hoa càng tốt). Cả ba thứ trên cho vào với nửa bát nước, đun sôi kỹ, gạn ra còn âm ấm cho uống rồi đắp chăn cho kín gió. Đây là liều lượng thuốc của các cháu 1-3 tuổi. Nếu trẻ lớn hơn thì tăng số lượng lên gấp hai; nếu dưới một tuổi thì chỉ cho uống một nửa số lượng trên. Mỗi ngày sắc một thang cho uống. Uống hai ngày liền, sởi mọc ra đều thì thôi.
Củ sắn dây
3. Lấy 5-6 lá cây hoa nhài, hoặc lấy một cái nấm hương, cho vào một chén nước, đun sôi kỹ, để gần nguội cho uống. Trong khi mới lên sởi một hai ngày đầu, nếu trẻ có tiêu chảy mỗi ngày 3-4 lần cũng không ngại, khi sởi mọc sẽ bớt tiêu chảy. Sởi mọc được hai, ba ngày mà các cháu ho nhiều, có khi ho khản cả tiếng thì nên lấy độ 10 lá diếp cá hoặc độ 20 lá cúc mốc, rửa sạch bằng nước muối, giã nhừ, vắt lấy nước cốt cho uống từng thìa nhỏ, uống dần dần.

Cây hoa nhài
4. Những cháu có mụn sởi lờ mờ đã hai ba ngày không mọc ra được rõ, nên lấy một nắm lá mùi già, đổ vào với hai bát nước đun sôi kỹ, để cho âm ấm, rồi lấy khăn mặt sạch thấm nước đó lau cho cháu từ đầu đến chân. Hoặc lấy một nắm mùi già với một chén rượu đun sôi để nguội rồi phun từ cổ đến chân và lưng bụng (tránh đầu, mặt). Phun xong ủ ấm cho ra mồ hôi. Tiếp đó cho uống những vị thuốc đã nói trên. Chỉ nên uống độ 2-3 thang. Thấy sởi đã mọc được rồi thì thôi.
Sau 3-4 ngày, sởi đã bay thì nên cho trẻ ăn các thứ dễ tiêu như: cháo đường, canh rau ngót nấu cá trê, hoặc cá rô. Không nên cho ăn nhiều thịt. Nếu ăn thịt, chỉ nên cho ăn thịt nạc, không nên cho ăn quá no. Nấu nước lá thơm gồm lá sả, lá kinh giới, lá mùi già để lau cho sạch, không phải xông.
Nguồn: Suckhoedoisong.vn

Mời xem tiếp các dự án thiết kế Ngôi Nhà Xinh tại Biệt Thự Đẹp




Read more...

Bài thuốc dân gian trị đau răng

0 nhận xét


Đau răng làm cho bạn cảm thấy vô cùng đau đớn và khó chịu, ảnh hưởng rất nhiều trong cuộc sống sinh hoạt của bạn nhất là trong quá trình ăn uống. Trong nhiều trường hợp, các loại thuốc tây mà bạn đã mua để uống không làm cho các cơn đau nhức răng giảm đi.

Các nguyên nhân phổ biến nhất gây ra chứng đau răng là bởi sâu răng, bệnh nướu răng, các vết nứt trong răng, bất kỳ chấn thương nào của răng, viêm xoang, nhiễm trùng do răng khấp khểnh… Dù là bởi nguyên nhân gì đi nữa thì bất kỳ ai khi bị đau răng cũng cảm thấy khó chịu và bất tiện.

Trong nhiều trường hợp, các loại thuốc tây mà bạn đã mua để uống không làm cho các cơn đau nhức răng giảm đi. Dưới đây là một số mẹo trị đau răng với các loại thảo dược, bạn hãy thử xem sao:

- Tỏi: Tỏi có tính sát khuẩn nên sẽ giúp chữa lành các bệnh nhiễm trùng, kể cả chứng đau răng. Cách làm: tỏi đem nghiền nát, trộn thêm ít muối và đắp vào vùng răng bị đau. 
- Gừng: Gừng có tính kháng viêm nên cũng có công dụng làm giảm đau. Giã nát gừng và đắp lên răng, làm như vậy vài lần trong ngày là sẽ thấy hiệu quả.
- Nước chanh: Nước chanh có thể massage cho răng và nướu nên sẽ làm dịu các cơn đau. Hơn nữa, chanh cũng tính axit cũng có thể kháng khuẩn.
- Hành tây: Mặc dù hành tây có mùi khá khó chịu nhưng cũng giống như nước chanh, nước ép hành tây cũng có tác dụng massage và làm giảm đau nhức răng và nướu.
- Dầu ôliu: Dầu ôliu trộn lẫn với dầu đinh hương lên phần răng và nướu bị đau. Trộn hai phần hỗn hợp tinh dầu đinh hương với một phần dầu ôliu. Làm điều này 3-4 lần mỗi ngày, cho đến khi cơn đau giảm đi. Thậm chí bạn cũng có thể nhai đinh hương, bởi đinh hương ngăn chặn sự nhiễm trùng và vi khuẩn lây lan và rất tốt trong giảm đau, kháng viêm.


- Cúc hoa vàng: Lấy một cụm hoa rửa sạch, đặt trực tiếp vào chỗ răng bị đau, cắn nhẹ dần dần. Sau vài phút, cơn đau nhức dịu dần. Có thể lấy cụm hoa phơi khô, giã nhỏ, rồi ngâm vào rượu trắng trong vài giờ (để càng lâu càng tốt). Khi dùng, nhấp một ít rượu thuốc này, ngậm vào chỗ đau, không nuốt. Ngày làm 2 – 3 lần.
- Bồ kết: Lấy 1 quả đã khô đen, để cả hạt, nướng cho hơi cháy vỏ ngoài, nghiền nhỏ cùng với diêm sinh lấy từ 10 đầu que diêm. Ngâm với rượu trắng cho thật đặc trong 2-3 ngày (muốn có thuốc dùng ngay, đun nhỏ lửa trong vài phút). Khi dùng, nhấp ít một ngậm vào chỗ răng đau trong 10 – 15 phút rồi nhổ đi. Ngày làm 2 – 3 lần.
- Bột nghệ: Sử dụng một ít bột nghệ nhét vào răng bị đau. Cơn đau sẽ giảm trông thấy mà không gây ra bất cứ một tác dụng phụ nào.
- Tiêu đen và húng quế: Sử dụng một ít tiêu đen và vài lá húng quế đã rửa sạch với liều lượng tương đương, nghiền thành chất bột sệt. Sau đó, đắp hỗn hợp này lên khu vực răng bị đau sẽ giúp giảm đau.
- Cây giao: Ngắt một cành của cây Cành giao (còn gọi là cây xương khô), để nhựa tiết ra, dùng bông tẩm nhựa này đặt vào hố răng đau.
- Hạt na: Hạt na đập ra lấy nhân, nghiền nhỏ đặt vào hố răng, sẽ có công dụng giảm đau ngay. Vì hạt na có tính chất sát trùng, sát khuẩn.


Nguồn: Sưu tầm


Mời xem tiếp các dự án thiết kế Ngôi Nhà Xinh tại Biệt Thự Đẹp




Read more...

Thứ Sáu, 19 tháng 9, 2014

Công dụng chữa bệnh tuyệt vời từ lá lốt

0 nhận xét


Lá lốt là loại rau quen thuộc và được dùng phổ biến trong các bữa ăn. Lá lốt thường được sử dụng ăn sống như các loại rau thơm hoặc làm rau gia vị khi nấu canh. Ngoài là rau ăn lá, lá lốt còn là vị thuốc chữa nhiều bệnh. Khi dùng có thể dùng tươi, phơi hay sấy khô.
Lương y Nguyễn Công Đức cho biết, theo kết quả nghiên cứu hiện đại, lá lốt có tác dụng kháng khuẩn, chống viêm và giảm đau khá tốt. Trong y học cổ truyền lá lốt có vị nồng, hơi cay, tính ấm, có công dụng ôn trung (làm ấm bụng), tán hàn (trừ lạnh), hạ khí (đưa khí đi xuống) và chỉ thống (giảm đau), thường được dùng để chữa các chứng đau nhức xương khớp khi trời lạnh, chứng ra nhiều mồ hôi ở tay chân, mụn nhọt lâu liền miệng...
Các bài thuốc chữa bệnh từ lá lốt
Kiết lỵ: Lấy một nắm lá lốt sắc với 300 ml nước, chia uống trong ngày.
Tổ đỉa ở bàn tay: Lấy một nắm lá lốt, rửa sạch, giã nát, chắt lấy nước cốt, uống hết một lần, còn bã cho vào nồi, đổ ba bát nước đun sôi kỹ. Vớt bã để riêng, dùng nước thuốc lúc còn ấm rửa vùng tổ đỉa, lau khô rồi lấy bã đắp lên, băng lại. Ngày làm 1 - 2 lần, liên tục 5 - 7 ngày sẽ khỏi.
Mồ hôi tay chân: Lấy 30 gr lá lốt tươi, đổ một lít nước vào đun sôi, cho thêm ít muối. Để nước ấm ngâm tay chân vào. Làm thường xuyên ngày một lần trước khi đi ngủ, sẽ có kết quả tốt.
Mụn nhọt: Lá lốt, lá chanh, lá ráy, tía tô, mỗi vị 15g. Trước tiên lấy lớp vỏ trong của cây chanh (bỏ vỏ ngoài) phơi khô, giã nhỏ, rây bột mịn rắc vào vết thương, sau đó các dược liệu trên rửa sạch, giã nhỏ đắp vào nơi có mụn nhọt rồi băng lại. Ngày đắp 1 lần. Đắp trong 3 ngày.
Ảnh minh họa
Đau nhức xương khớp: Lấy 20 gr lá lốt, 12 gr thiên niên kiện, 16 gr gai tầm xoang, sắc với 400 ml nước còn 100 ml, chia uống trong ngày. Uống liền trong một tuần.Hoặc lấy 15 gr lá lốt, 15 gr rễ cây vòi voi, 15 gr rễ cây cỏ xước, 15 gr rễ cây bưởi, thái mỏng, sao vàng. Sắc với 600 ml nước còn 200 ml, uống ba lần trong ngày. Uống liền trong một tuần. Hoặc lấy 5 - 10 lá lốt phơi khô hay 15 - 30 gr lá lốt tươi, sắc kỹ với nước, chia 2 - 3 lần uống trong ngày. Uống liền một tuần.
Viêm nhiễm âm đạo, ngứa, ra nhiều khí hư: Lấy 50 gr lá lốt, 40 gr nghệ, 20 gr phèn chua, đổ nước ngập thuốc khoảng hai đốt ngón tay, đun sôi thì bớt lửa sôi liu riu khoảng 10 - 15 phút rồi chắt lấy một bát nước, để lắng trong, dùng rửa âm đạo. Số thuốc còn lại đun sôi để xông hơi vào âm đạo, rất hiệu nghiệm.
Đau bụng do lạnh: Lá lốt tươi 20g, rửa sạch, đun với 300ml nước còn 100ml. Uống trong ngày khi thuốc còn ấm, nên uống trước bữa ăn tối. Dùng liên tục trong 2 ngày.
Đầu gối sưng đau: Lá lốt, ngải cứu mỗi vị 20g (tất cả dùng tươi), rửa sạch, giã nát, thêm giấm chưng nóng, đắp, chườm nơi đầu gối sưng đau.

Nguồn: VnMedia

Mời xem tiếp các dự án thiết kế Ngôi Nhà Xinh tại Biệt Thự Đẹp




Read more...

Thứ Ba, 16 tháng 9, 2014

9 tác dụng chữa bệnh bất ngờ từ cây sả

0 nhận xét

1. Ngăn ngừa ung thư
Một số nghiên cứu cho thấy mỗi 100 g sả chứa đến 24,205 microgam beta-carotene - những chất chống  oxy hóa mạnh mẽ có thể giúp ngăn ngừa ung thư. 

2. Giúp tiêu hóa tốt
Trà từ cây sả và tinh dầu sả (có thể uống 3-4 giọt với nước đun sôi để nguội) có tác dụng hỗ trợ tiêu hóa kém, ăn chậm tiêu, đầy bụng, buồn nôn, nôn mửa, hay kích thích trung tiện, đau dạ dày, nóng trong, co thắt ruột, tiêu chảy.

Sả là loại cây thảo sống dai, cao khoảng 1m, mọc thành bụi
 (tên khoa học là Cymbopogon Citratus (L.) Pers), thuộc họ lúa (Poaceae).
Tinh dầu sả cũng giúp giảm thiểu các vấn đề về khí trong cơ thể vì có khả năng thư giãn các cơ dạ dày. Nó không chỉ giúp loại bỏ khí từ ruột, mà còn ngăn ngừa sự đầy hơi. Kích thích tiêu hóa, khử hôi miệng, tiêu đờm. Uống 3-6 giọt tinh dầu chữa đau bụng đầy hơi. Chú ý táo bón mà có sốt không dùng cây sả, không dùng cho trẻ em dưới 1 tuổi, không sắc lâu.

3. Chữa đau bụng, rối loạn tiêu hóa
Cây sả tươi 30 – 50 gam đun sôi, hòa thêm đường đủ ngọt, uống nóng 2- 3 lần trong ngày. Dùng chữa chứng bội thực, đau bụng đi tả, nôn ọe, cảm sốt, ngộ độc rượu. Liều dùng mỗi ngày từ 6 – 12 gam.

4. Chữa đau bụng tiêu chảy do lạnh
Củ sả 12g, vỏ quít khô 12g, búp ổi 12g, củ gấu 20g, gừng tươi 3 lát. Đổ 2 bát nước sắc còn 1 bát uống nóng (trẻ em thì chia uống làm 2-3 lần). Nếu không đỡ thì thêm 15g tía tô, rất hiệu nghiệm. (Theo nhân dân, Văn hóa nghệ thuật ăn uống).
5. Giải độc
Ăn sả cũng có tác dụng giải độc cơ thể bằng cách tăng cường số lượng và tần xuất đi tiểu (thông tiểu tiện). Điều này giúp cho gan, đường tiêu hóa, tuyến tụy, thận và bàng quang được sạch sẽ và khỏe mạnh bằng cách hỗ trợ cơ thể để loại bỏ các chất độc hại không mong muốn và acid uric.
Đặc biệt sả giải độc rượu rất nhanh, bạn có thể dùng 1 bó sả giã nát, thên nước lọc, gạn lấy 1 chén. Người say rượu nặng uống vào sẽ nhanh chóng tỉnh và đỡ mệt, đỡ nhức đầu.

6. Có lợi cho hệ thần kinh
Tinh dầu sả được sử dụng để tăng cường và cải thiện các chức năng của hệ thần kinh. Thông kinh lạc. Nó hỗ trợ trong điều trị một số rối loạn của hệ thần kinh như bệnh Alzheimer, bệnh Parkinson, co giật, căng thẳng, chóng mặt, run rẩy chân tay, động kinh (Trẻ em kinh phong) ...

7. Giảm huyết áp
Bổ sung các tinh chất có trong sả sẽ có hiệu quả trong việc giảm huyết áp. Nó làm tăng tuần hoàn máu và giúp giảm bớt tất cả các vấn đề của huyết áp. Uống một ly nước trái cây có sả có thể làm giảm huyết áp đáng kể.

8. Giảm đau
Tinh chất sả cá thể làm giảm đau tất cả các loại viêm và các cơn đau nhức. Vì vậy, nếu bạn có đau răng, đau cơ, đau khớp hay đau ở các bộ phận khác hãy uống trà sả vì chắc chắn nó sẽ hữu ích cho bạn.

Củ sả

Theo Đông y, sả vị the, mùi thơm, tính ấm, có tác dụng làm ra mồ hôi, thông tiểu tiện và tiêu thực. 
9. Làm đẹp da
Chất sả là một nguyên liệu không thể thiếu trong ngành công nghiệp mỹ phẩm vì nó có rất nhiều lợi ích cho da. Tinh dầu sả cải thiện chất lượng da như giảm mụn trứng cá và mụn nhọt. Nó cũng có tác dụng làm săn chắc các cơ và các mô trong cơ thể.
Bên cạnh đó, cây sả còn có tác dụng xua đuổi được ruồi, muỗi, côn trùng, khử hết mùi xú uế, những nơi bị ô nhiễm môi trường độc hại, sát trùng. Tinh dầu sả còn được dùng làm thuốc diệt trừ muỗi.
Một số bài thuốc từ cây sả
1. Giải cảm: Lá sả cùng với một số loại lá như kinh giới, tía tô, trắc bách diệp, bạc hà, chanh, ngải cứu, lá tre, lá ổi (mỗi nồi dùng 5 loại lá) ... đun sôi, dùng để sông giải cảm rất hiệu nghiệm.
2. Chữa cảm cúm trúng hàn: Ngày dùng 15 đến 30 gam củ hoặc lá tươi để nấu nước xông.
3. Trị nhức đầu: Lá sả, lá tía tô, lá kinh giới, lá ngải cứu, thêm 3-4 củ tỏi, (thiếu một thứ cũng không được), nấu nước xông. Hoặc lá sả, lá tre, lá bưởi, (hoặc lá chanh), lá tía tô, lá ổi, nấu nước xông, trước khi sông nên múc sẵn một chén để riêng, xông xong uống rồi đắp chăn mằm một lúc sẽ đỡ (bài thuốc gia truyền).
4. Rễ sả giã nhỏ, xát chữa chàm mặt.

5. Trị mụn nhọt: Nấu nước lá sả tắm hàng ngày.
Nguồn: giaoduc.net.vn

Mời xem tiếp các dự án thiết kế Ngôi Nhà Xinh tại Biệt Thự Đẹp




Read more...

Mẫu nội thất liên thông phòng khách với bếp hiện đại, xinh xắn

1 nhận xét

Thiết kế nội thất liên thông phòng khách với bếp dần trở thành xu hướng hiện nay nhằm mở rộng không gian, tạo thuận lợi phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của mọi người và giúp phát huy sáng tạo những không gian nội thất đẹp và độc đáo.


Sử dụng chất liệu sơn màu kem tươi sáng làm chủ đạo kết hợp với mảng tường được nhấn bằng màu nâu nhạt khu vực cửa và cửa sổ. Cửa rộng đón ánh sáng và thông thoáng cùng với ánh sáng đèn trang trí, đèn trần giúp chiều sáng nhẹ nhàng cho căn phòng. Nội thất mẫu phòng khách được thiết kế với các gam màu nhẹ nhàng, sử dụng giấy dán tường tạo cảm giác mềm mại, không cầu kì, sặc sỡ nhưng vẫn đem đến nét tiện nghi và hiện đại.


Là nơi tiếp khách cũng như sum họp của gia đình, nội thất hiện đại của phòng khách đem đên không gian rộng rãi với bố cục gọn gàng tạo sự thoải mái cho gia chủ. Bố trí nội thất tạo ấn tượng với bộ ghế sofa vuông vắn bên cạnh chiếc bàn được thiết kế đơn giản. Thêm vào một chiếc ghế ngồi kiểu dáng mềm mại đem lại tiện nghi giúp gia chủ và khách cảm thấy thoái mái hơn trong không gian sống của mình.




 Không gian chuyển tiếp giữa phòng khách và khu vực bàn ăn được ngăn cách bằng hệ lam gỗ kiểu dáng đơn giản làm vách ngăn nhẹ nhàng, tạo sự kín đáo mà giúp tầm nhìn thông thoáng. Bố trí đàn piano lớn màu đen hướng ra khung cửa đón sáng đem đến cảm giác thư thái, gần gũi với thiên nhiên để chìm đắm trong âm. Kết hợp đèn thả trần độc đáo có ánh sáng đèn tạo cho không gian thêm thi vị và lãng mạn.


 Sử dụng tông màu trắng sáng, tạo cảm giác sạch sẽ làm nổi bật các đồ nội thất và trang trí cho khu vực bàn. Khai thác chất liệu gỗ cùng với thiết kế hình khối đơn giản, bàn ăn có vân gỗ tự nhiên như những hoa văn tạo cđiểm nhấn cho trung tâm mẫu nội thất đẹp. Thêm vào lọ hoa và dĩa trái cây nhiều màu sắc mang đến cảm giác vui vẻ,  ngon miệng, gắn kết tình cảm gia đình trong các bữa ăn.


Không gian bếp được dành phần lớn diện tích cho thiết kế nội thất, đem đến một diện tích rộng rãi và thoải mái cho gia chủ trổ tài nầu nướng sau một ngày đi làm bận rộn. Không gian bếp thông thoáng, tiện nghi còn tạo niềm hứng khởi cho cả gia đình có thể cùng làm bếp với nhau. Bữa ăn vào những dịp cuối tuần sẽ thêm phần ấm cúng và ngon miệng khi gia đình có nhiều thời gian quây quần bên nhau.


Bố trí hai chiếc ghế màu vàng có thiết kế hiện đại tạo điểm nhấn cho khu vực bếp thêm sinh động và vui mắt đồng thời là tiện nghi thuận lợi phục vụ cho gia chủ những bữa ăn nhanh vào buổi sáng. Khu vực bếp đảo sẽ tạo cảm giác giống như một nhà hàng chuyên nghiệp, có tác phong nhanh nhẹn và gọn gàng.


Tổng thể nội thất bếp sử dụng chất liệu gạch men bóng phối hợp với màu nền chủ đạo tươi sáng đem đến cảm giác sạch sẽ và tinh khiết. Phối sáng hài hòa giữa nguồn sáng tự nhiên được đưa vào nội thất thông qua cửa sổ cùng đèn trang trí, đèn trần chiếu sáng làm cho không gian bếp thêm ấm áp. Với không gian này, chắc hẳn ai cũng mong muốn đươc vào bếp trổ tài nấu những món ăn ngon cho người thân và bạn bè.


Mời xem tiếp các dự án thiết kế Ngôi Nhà Xinh tại Nội Thất Đẹp



Read more...

Thứ Bảy, 13 tháng 9, 2014

Bị ho kéo dài nên ăn gì, uống gì?

1 nhận xét

Nhiều người lo lắng khó chịu khi bị ho kéo dài có khi cả tháng không dứt. Ho là dấu hiệu của nhiều bệnh như viêm họng, viêm thanh khí phế quản, viêm phổi... hoặc do ô nhiễm môi trường, do tâm lý. Đặc biệt trong những ngày nắng nóng, nhiều gia đình thường sử dụng điều hòa, do sự chênh lệch nhiệt độ với bên ngoài khiến dễ bị cảm lạnh gây ho. Ngoài dùng thuốc, bạn có thể lựa chọn các loại thực phẩm thanh nhiệt nhuận phổi để giúp nhanh khỏi ho.

Nước lá mơ lông: lá mơ lông 20g, vỏ quýt tươi 10g, mật ong 1 thìa cà phê. Lá mơ lông rửa sạch, cùng vỏ quýt giã nhỏ lọc bằng nước sôi để nguội lấy 200ml nước thuốc, cho mật ong vào quấy đều, chia 3 lần uống trong ngày, cần uống liền 3 - 5 ngày.

Nước hoa cúc vạn thọ: hoa cúc vạn thọ 20g, vỏ quýt khô 5g, đường phèn 20g. Vỏ quýt khô thái nhỏ cho vào bát cùng với hoa cúc vạn thọ và đường phèn, đem hấp cách thủy. Khi đường tan hết, hoa cúc chín, dùng khăn vắt kỹ lấy nước, bỏ bã. Uống mỗi lần 1 thìa cà phê, ngày uống 4 - 5 lần cách xa bữa ăn. Cần uống liền 3 - 5 ngày.

Nước đu đủ: hoa đu đủ đực 15g, lá chanh 10g, đường phèn 30g. Hoa đu đủ đực, lá chanh rửa sạch thái nhỏ, cùng đường phèn cho vào bát đem hấp cách thủy. Khi hoa đu đủ, lá chanh chín, dùng vải mỏng vắt lấy nước bỏ bã. Uống mỗi lần 4 thìa cà phê, cách 2 giờ uống một lần, cần uống liền 4 - 5 ngày.


Nước mía, húng chanh hấp: mía xanh 30g, lá húng chanh 30g. Mía xanh đem nướng cho vàng vỏ, ép lấy nước, cho vào bát cùng lá húng chanh đã rửa sạch thái nhỏ đem hấp cách thủy, lá húng chanh chín vắt lấy nước bỏ bã. Uống ngày 4 - 5 lần, uống liền 3 ngày.
Chim sẻ hấp: chim sẻ 1 con, lá chanh 10g, đường phèn 10g. Lá chanh rửa sạch giã nhỏ, chim sẻ làm sạch bỏ nội tạng, nhồi đường phèn, lá chanh vào bụng chim khâu chín hấp cách thủy cho chín. Ăn ngày 1 - 2 lần, cần ăn liền 3 ngày.

Ếch hấp: ếch to 1 con, nghệ 5g, gừng 2g, đường phèn 20g. Ếch làm thịt bỏ da, nội tạng, bàn chân, đầu (từ mắt trở lên). Nghệ, gừng rửa sạch giã nhỏ cùng đường phèn cho vào bụng ếch, đem hấp cách thủy cho chín. Ăn ngày 1 lần, ăn liền 3 ngày.

Trứng vịt hấp: trứng vịt 3 quả, lá hẹ 10g, đường phèn 20g. Lá hẹ rửa sạch thái nhỏ cho vào bát to cùng với đường phèn, đập trứng vào quấy đều, đem hấp cách thủy cho chín. Ăn ngày 1 lần lúc đói vào buổi sáng. Cần ăn 3 - 5 ngày.

Cháo tía tô: lá tía tô tươi 20g, gừng tươi 2g, đường phèn 20g, gạo 50g. Lá tía tô rửa sạch thái nhỏ, gừng rửa sạch giã nhỏ. Gạo vo sạch nấu cháo, cháo chín cho tía tô, gừng, đường phèn vào quấy đều, sôi lại là được, chia ăn 2 lần trong ngày lúc đói, ăn liền 3 - 5 ngày.


Cháo tỏi: tỏi 1 củ, lá chanh 10g, gạo 50g, thịt lợn nạc 100g, bột gia vị vừa đủ. Thịt lợn rửa sạch băm nhỏ ướp gia vị xào chín. Lá chanh, tỏi rửa sạch giã nhỏ cho nước vào lọc lấy nước, cho vào nồi cùng gạo vo sạch nấu cháo. Khi cháo chín cho thịt vào đảo đều, cháo sôi lại là được. Ăn ngày 1 lần vào buổi sáng lúc đói, ăn liền 4 - 5 ngày.

Cháo kê: kê hạt 50g, lá hẹ 10g, lá húng chanh 5g, củ cải 30g, đường phèn 20g. Kê xát vỏ xay thành bột, lá hẹ, lá húng chanh, củ cải rửa sạch, giã nhỏ, cho nước vào lọc lấy nước thuốc, cho bột kê vào quấy đều nấu cháo, cháo sôi kỹ cho đường phèn vào, đường tan hết là được. Ăn ngày 1 lần lúc đói vào buổi sáng, cần ăn liền 3 ngày.

Lưu ý: Khi bị ho cần được ăn các chất dễ tiêu hóa như cháo, mỳ, thịt nạc băm nhỏ, ăn nhiều rau xanh, quả tươi, các loại đậu, củ cải, mướp... và uống nhiều nước giúp giải nhiệt và nhuận phổi như nước củ cải, nước ép lê, táo, cam chanh, đu đủ, ngó sen,... Kiêng thức ăn tanh như cá biển, tôm, cua, trai, ốc, hến và chất cay nóng ớt, tỏi, hạt tiêu, cà phê...

Nguồn: Sưu tầm

Mời xem tiếp các dự án thiết kế Ngôi Nhà Xinh tại Biệt Thự Đẹp




Read more...

Cách chữa đau mắt đỏ cho trẻ sơ sinh 2 ngày là khỏi

0 nhận xét

( Làm mẹ ) - Dịch đau mắt đỏ đang bắt đầu “vào mùa”, mẹ hãy bỏ túi những mẹo nhỏ giúp phòng và trị đau mắt đỏ cho trẻ.

Đến hẹn lại lên, cứ sau mùa tựu trường, dịch đau mắt đỏ lại bắt đầu “tái xuất”. Theo bác sĩ Hoàng Cương, khoa khám bệnh, Bệnh viện Mắt Trung ương, số lượng bệnh nhân đến khám vì đau mắt đỏ gần đây tăng mạnh, chiếm khoảng 25-40% tổng số bệnh nhân, trong đó có rất nhiều bệnh nhân là trẻ em.

Để phòng tránh dịch đau mắt đỏ tràn lan, mẹ hãy “bỏ túi” những mẹo nhỏ này:

- Thường xuyên đảm bảo vệ sinh cá nhân, rửa tay bằng xà phòng và nước sạch trước khi tiếp xúc với mắt bé.

- Cho con dùng riêng khăn, gối, chậu rửa mặt; giặt sạch khăn mặt bằng xà phòng và nước sạch, phơi khăn ngoài nắng hàng ngày.

- Nhỏ mắt cho bé hàng ngày bằng ước muối sinh lý (nước muối 0,9%), ngày ít nhất 3 lần vào các buổi sáng, trưa, tối; không dùng chung thuốc nhỏ mắt với cha mẹ.

- Hạn chế đưa con ến những nơi đông người đặc biệt là những nơi có nhiều mầm bệnh như bệnh viện…

- Mỗi ngày đón con tại nhà trẻ, luôn hỏi con về tình hình sức khoẻ của con trong ngày, đặc biệt quan tâm các dấu hiệu như mắt có nhiều gỉ không, tròng mắt có đỏ, thân nhiệt…

- Khi ở lớp có bạn bị đau mắt đỏ, hãy cho con nghỉ ở nhà một thời gian.


Dịch đau mắt đỏ đang bắt đầu “vào mùa”, mẹ hãy bỏ túi những mẹo nhỏ giúp phòng và trị đau mắt đỏ cho trẻ. (ảnh minh hoạ)

Kinh nghiệm chữa đau mắt đỏ nhanh khỏi:

Khi thấy con mới chớm có dấu hiệu đau mắt đỏ, mẹ nên:

- Giặt sạch, phơi nắng một loại khăn xô, gối, chăn, vải trải giường của bé.

- Chuẩn bị 3 loại khăn lau mắt, lau tay, lau người dùng riêng không lẫn lộn

- Khi trẻ bị đau mắt, thông thường sẽ bị một bên mắt trước, bố mẹ và người nhà cần chăm sóc trẻ thật cẩn thận, để tránh nhiễm bệnh cho mắt còn lại. 

- Nếu bé đang đi học, ngay lập tức xin phép nghỉ học cho con để tránh lây nhiễm chéo. Đồng thời tránh khói bụi ngoài đường khi di chuyển tiếp xúc với mắt bé.

- Mua bông gòn và nước muối sinh lý. Cho trẻ nằm nghiêng một bên, nhỏ mắt rồi dùng gạc y tế lau ngay dử và nước mắt chảy ra. Chú ý rửa mắt cho con nhiều lần trong ngày để tránh gỉ mắt mọc dầy, cộm gây ngứa ngáy cho bé. Lau xong vứt bỏ bông gòn, không sử dụng lại.

- Nên lấy gỉ mắt cho con ngay lúc ướt, tránh để khô, khi lấy ghèn mắt sẽ gây đau đớn cho con.

- Trước và sau khi vệ sinh mắt, nhỏ mắt, mẹ cần rửa tay thật sạch bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn. 

- Tăng cường cho bé uống nước cam, ăn sữa chua để tăng sức đề kháng.

- Hạn chế không có con xem tivi, ipad, iphone, điện thoại, máy tính, sách truyện…

- Tuyệt đối không chữa mẹo bằng lá trầu hay xông hơi…

Sau 1,2 ngày nếu không khỏi, mẹ cần đưa bé đến bệnh viện khám. Khi đi, lưu ý đeo kính đen cho bé để tránh lây bệnh ngay trong viện.


Nguồn: http://phunuplus.net/


Mời xem tiếp các dự án thiết kế Ngôi Nhà Xinh tại Biệt Thự Đẹp




Read more...

 

Tổng số lượt xem trang

Labels

Copyright © by www.ngoinhaxinh.com.vn